Ếch ộp; hay chuyện về tám con đười ươi

Tôi chưa từng biết đến một ai yêu thích chuyện đùa nồng nhiệt như nhà vua. Ngài dường như chỉ sống vì đùa cợt. Kể một câu chuyện hài hước thú vị, và kể thật có duyên, là con đường chắc chắn nhất để giành được sự ưu ái của ngài.

Tình cờ là bảy vị bộ trưởng của ngài đều nổi tiếng về những thành tựu của họ trong cương vị người pha trò. Bên cạnh việc là những người pha trò độc đáo, họ còn giống đức vua ở chỗ đều là những người to lớn, ục ịch, béo tốt. Liệu có phải người ta béo lên nhờ việc kể chuyện cười, hay có gì đó trong bản thân sự béo tốt dẫn đến một trò cười, là điều tôi chưa bao giờ xác định được rõ ràng; nhưng chắc chắn rằng một gã hề gầy gò là thứ rất hiếm hoi.

Nhà vua bận tâm rất ít đến sự tinh tuý, hay theo cách gọi của ngài là “hồn ma” của khiếu hài hước. Ngài dành sự yêu thích đặc biệt cho độ dài của trò đùa; và sẵn sàng chấp nhận sự lê thê chỉ vì nó dài. Sự tinh tế khiến ngài chán ngán. Ngài ưa thích Gargantua của Rabelais hơn Zadig_ của Voltaire; và nói chung thì những trò chơi khăm thực tế hợp sở thích của ngài hơn nhiều so với chuyện đùa bằng ngôn từ.

Vào thời của câu chuyện mà tôi đang kể, nghề diễn trò vẫn chưa hoàn toàn lỗi thời trong cung đình. Một số “thế lực hùng mạnh” trên lục địa rộng lớn này vẫn giữ lại các “anh hề” của họ, những người mặc trang phục sặc sỡ, đội mũ và đeo chuông, được trông đợi phải luôn sẵn sàng nói những lời pha trò dí dỏm thông minh vào bát cứ lúc nào, để đổi lấy những mảnh vụn vương vãi từ bàn ăn hoàng gia.

Đức vua của chúng ta, tất nhiên, cũng giữ lại “anh hề” của mình. Thực tế là, ngài đòi hỏi một thứ gì đó thiên về điên rồ, dù chỉ để cân bằng với trí tuệ nặng kí của bảy nhà thông thái là các bộ trưởng của ngài – chưa kể đến chính bản thân ngài.

Tuy nhiên anh hề, hay người diễn trò chuyên nghiệp của ngài, không chỉ là một anh hề. Giá trị của anh nhân lên gấp ba trong mắt đức vua nhờ thực tế rằng anh còn què và là người lùn. Vào thời đó, người lùn cũng phổ biến trong cung đình như vai hề; và nhiều vị vua chúa thường khó mà sống qua ngày (ngày tháng trong hoàng cung phần nào dài hơn ở bất kì nơi nào khác) nếu không có một anh hề để mua vui, và một anh lùn để chế nhạo. Nhưng, như tôi đã tổng kết ở trên, chín mươi chín phần trăm các anh hề là những người béo tròn, vụng về – do vậy nhà vua có được niềm kiêu hãnh không nhỏ vì nhờ Ếch Ộp (tên của anh hề), ngài sở hữu một kho báu ba trong một.

Tôi tin rằng “Ếch Ộp” không phải cái tên mà những người rửa tội cho anh lùn đã đặt cho anh, mà nó được ban cho anh, với sự đồng thuận của vài bộ trưởng, dựa vào việc anh không có khả năng đi lại như những người khác. Trên thực tế, Ếch Ộp chỉ có thể di chuyển bằng một kiểu bước đi nửa như nhảy cóc và nửa như trườn bò – một kiểu di chuyển tạo ra nguồn vui thích bất tận, và tất nhiên cả sự an ủi, cho đức vua, bởi vì đức vua được cả triều đình coi là một nhân vật uy nghiêm (bất chấp cái bụng căng tròn và cái đầu to bất thường của ngài).

Nhưng dù Ếch Ộp chỉ có thể di chuyển một cách khó khăn và đầy đau đớn trên đường hay trên sàn nhà bằng đôi chân biến dạng, sức mạnh cơ bắp phi thường mà tạo hoá ban cho hai cánh tay của anh, dường như để đền bù cho khiếm khuyết ở chi dưới, cho phép anh thực hiện nhiều động tác linh hoạt tuyệt vời, dùng đến cây cối, dây thừng, hay bất cứ thứ gì khác để leo trèo. Trong những động tác đó, anh chắc chắn giống một chú sóc, hay chú khỉ nhỏ, hơn một con ếch.

Tôi không thể nói chính xác Ếch Ộp đến từ đất nước nào. Tuy nhiên đó là một vùng đất hoang sơ, nơi chưa ai từng nghe nói đến – cách xa hoàng cung của nhà vua chúng ta. Một trong những vị tướng bất bại của ngài đã bắt Ếch Ộp cùng một cô gái trẻ cũng lùn chẳng kém gì anh (dù có tỉ lệ thân hình thanh tú, và là một vũ công tuyệt diệu) khỏi quê nhà của họ tại hai tỉnh nằm cạnh nhau, và dâng cho nhà vua làm tặng phẩm.

Trong hoàn cảnh đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi tình cảm khăng khít đã nảy nở giữa hai tù binh bé nhỏ. Trên thực tế, chẳng mấy chốc họ đã trở thành bạn bè chí cốt. Ếch Ộp, dù thường xuyên là đối tượng pha trò, lại không hề được yêu thích, nên anh không có khả năng giúp ích nhiều cho Trippetta. Nhưng cô, nhờ vẻ duyên dáng và nét đẹp thanh tú (dù là người lùn), được đông đảo mọi người yêu thích và cưng chiều; vì thế cô có tầm ảnh hưởng lớn; và không ngừng tận dụng điều đó bất cứ khi nào có thể để giúp đỡ Ếch Ộp.

Vào một dịp trọng đại của đất nước – tôi không nhớ là dịp nào – nhà vua quyết định tổ chức một buổi dạ hội hoá trang. Và bất cứ khi nào có dạ hội hoá trang hay thứ gì tương tự diễn ra trong cung đình của chúng ta, thì tài năng của cả Ếch Ộp lẫn Trippetta chắc chắn sẽ được dùng đến. Đặc biệt, Ếch Ộp rất giàu trí tưởng tượng trong lĩnh vực bài trí trang hoàng, gợi ý các nhân vật hư cấu, và thiết kế trang phục cho các dạ hội hoá trang, đến mức dường như chẳng có gì hoàn thành được nếu thiếu sự trợ giúp của anh.

Đêm định mệnh đã đến. Một đại sảnh lộng lẫy được bày biện, dưới sự giám sát của Trippetta, với đủ loại thiết bị có thể tô điểm cho một dạ hội hoá trang. Cả cung đình sôi sục vì háo hức. Về phần trang phục và nhân vật, có thể coi như vào thời điểm này, tất cả mọi người đều đã quyết định được. Nhiều người quyết định xong (về vai mình sẽ diễn) từ trước đó cả tuần, thậm chí cả tháng; và trên thực tế, chẳng ai còn tồn tại chút băn khoăn nào nữa – trừ trường hợp của đức vua cùng bảy vị bộ trưởng của ngài.

Vì sao họ còn đắn đo thì tôi không bao giờ biết được, trừ khi họ làm thế để đùa vui. Nhiều khả năng là họ khó quyết định vì quá béo. Dù thế nào đi nữa, thời gian vùn vụt trôi qua; và họ triệu Trippetta cùng Ếch Ộp tới như giải pháp cuối cùng.

Khi hai người bạn nhỏ bé đến theo lời triệu của nhà vua, họ thấy ngài ngồi uống rượu cùng bảy thành viên của hội đồng nội các; nhưng dường như đức vua có tâm trạng rất tệ. Ngài biết rằng Ếch Ộp không thích rượu, vì thứ đó khiến anh què tội nghiệp phấn khích đến mức gần điên loạn; và điên loạn không phải cảm giác dễ chịu gì. Nhưng nhà vua yêu thích những trò đùa ác ý, ngài lấy làm vui thích khi ép Ếch Ộp uống rượu và (theo lời nhà vua) “trở nên vui vẻ”.

“Lại đây, Ếch Ộp.” Ngài nói khi anh hề và cô bạn bước vào phòng. “Cạn ly vì sức khoẻ những người bạn vắng mặt của ngươi,” nghe vậy Ếch Ộp thở dài, “rồi sau đó hãy cho chúng ta nhờ cậy sáng kiến của ngươi. Chúng ta muốn nhân vật – nhân vật, rõ chưa – thứ gì độc đáo – mới mẻ. Chúng ta đã chán ngấy sự đơn điệu bất di bất dịch này. Lại đây, uống đi! Rượu sẽ thắp sáng trí tuệ của ngươi.”

Ếch Ộp, như thường lệ, cố gắng tỏ ra vui vẻ để đáp lại những yêu cầu của nhà vua; nhưng việc đó là quá sức. Hôm ấy tình cờ là sinh nhật của anh lùn tội nghiệp, và mệnh lệnh uống vì “những người bạn vắng mặt” của anh khiến anh trào nước mắt. Nhiều giọt lệ nặng trĩu cay đắng rơi vào cốc khi anh khiêm nhường nhận lấy nó từ tay kẻ bạo chúa.

“A! Ha! Ha!” Tên bạo chúa cười phá lên khi anh lùn miễn cưỡng uống cạn cốc rượu. “Thấy một ly rượu ngon có thể làm gì chưa! Nhìn kìa, mắt ngươi đã sáng ngời lên rồi đó!”

Anh chàng tội nghiệp! Đôi mắt anh rưng rưng chứ không phải sáng ngời; vì tác động của rượu lên bộ não dễ kích động của anh không chỉ mạnh mẽ mà còn ngay tức thì. Anh lo sợ đặt cốc lên bàn, và nhìn mọi người xung quanh với ánh mắt trừng trừng nửa điên loạn. Họ đều có vẻ vui thích cao độ trước “trò đùa” thành công của nhà vua.

“Và bây giờ vào việc chính,” thủ tướng lên tiếng, một người rất to béo.

“Phải,” nhà vua nói. “Hãy đến giúp chúng ta. Nhân vật, anh bạn quý của ta; chúng ta đang cần nhân vật – tất cả chúng ta – ha! ha! ha!” Và vì câu này quả thực mang ý bông đùa, tiếng cười của ngài được bảy người phụ hoạ.

Ếch Ộp cũng cười theo dù yếu ớt và có phần trống rỗng.

“Nào, nào,” nhà vua sốt ruột nói, “ngươi không có gợi ý gì hay sao?”

“Thần đang cố nghĩ ra thứ gì mới mẻ,” anh lùn đáp lại với vẻ lơ đễnh, bởi vì anh đang khá lơ mơ do tác động của rượu.

“Đang cố!” Tên bạo chúa gắt lên. “Ý ngươi là sao? À, ta biết rồi. Ngươi đang giận dỗi, và muốn thêm rượu. Đây, uống đi!” Rồi ngài rót một cốc rượu đầy nữa và đưa cho anh què, người chỉ biết nhìn nó chằm chằm, thở hổn hển.

“Ta bảo là uống đi!” Tên quái vật hét lên. “Nếu không thì ta thề rằng…”

Anh lùn do dự. Nhà vua tím mặt vì giận dữ. Đám triều thần cười giễu cợt. Trippetta tái mét như một xác chết, tiến đến chỗ ngồi của nhà vua và quỳ xuống trước mặt ngài, cầu xin ngài tha cho bạn của mình.

Tên bạo chúa nhìn cô hồi lâu, rõ ràng là kinh ngạc vì sự to gan của cô. Ngài có vẻ không biết phải làm hay nói gì – làm thế nào là thích hợp nhất để thể hiện sự phẫn nộ của mình. Cuối cùng, không thốt một lời, ngài thô bạo đẩy cô ra xa, rồi hắt cả cốc rượu đầy vào mặt cô.

Cô gái tội nghiệp cố hết sức đứng dậy, và không dám cả thở mạnh, trở về vị trí của mình ở cuối bàn.

Sự im lặng chết chóc kéo dài khoảng nửa phút, tĩnh mịch đến mức có thể nghe thấy tiếng rơi của lá hay lông vũ. Nó bị phá vỡ bởi một tiếng gầm gừ trầm thấp, nhưng dữ tợn và kéo dài, dường như vang lên từ mọi ngóc ngách của căn phòng.

“Sao… sao… sao ngươi lại phát ra tiếng động đó?” Nhà vua giận dữ quay sang chất vấn anh lùn.

Người được hỏi có vẻ đã hồi phục khá nhiều từ cơn say, và lặng lẽ nhìn không chớp vào gương mặt tên bạo chúa, chỉ biết thốt lên:

“Thần… thần ư? Làm sao có thể là thần được?”

“Hình như âm thanh phát ra từ bên ngoài,” một trong các đại thần nhận xét. “Thần đoán rằng đó là con vẹt ở cửa sổ đang cọ mỏ lên chấn song lồng.”

“Đúng vậy,” nhà vua đáp, như thể thở phào nhẹ nhõm vì gợi ý đó. “Nhưng, ta sẵn sàng thề trên danh dự của một hiệp sĩ, rằng nó là tiếng nghiến răng của tên mọi này.”

Nghe vậy anh lùn bật cười (nhà vua là kẻ nghiện đùa nặng đến mức không thể phản đối tiếng cười của bất cứ ai), và trưng ra một hàm răng to lớn, mạnh mẽ, hết sức gớm ghiếc. Hơn thế nữa, anh còn thừa nhận mình sẵn sàng nốc bao nhiêu rượu cũng được. Nhà vua được xoa dịu; và sau khi uống cạn một cốc nữa mà không có hậu quả xấu nào rõ rệt, Ếch Ộp lập tức và hăm hở bắt tay vào kế hoạch cho dạ hội hoá trang.

“Thần không thể nói rõ ý tưởng từ đâu mà thành,” anh kết luận, rất bình tĩnh, như thể anh chưa từng nếm một giọt rượu nào trong đời, “nhưng ngay sau khi bệ hạ đánh cô gái và hắt rượu lên mặt cô ấy – ngay sau khi bệ hạ làm thế, và trong khi con vẹt phát ra tiếng động kì lạ ngoài cửa sổ, một trò hay tuyệt hảo đã nảy ra trong óc thần – một trong những trò đùa vui nhộn của đất nước thần – thường được chúng thần diễn lại trong các lễ hội hoá trang: nhưng hoàn toàn mới lạ ở đây. Tuy nhiên không may là nó cần một đội tám người và…”

“Có chúng ta đây!” Nhà vua reo lên, bật cười khi phát hiện ra sự trùng hợp tuyệt đối. “Đúng tám người không hơn không kém – ta và bảy vị bộ trưởng của ta. Nào! Trò hay đó là gì?”

“Chúng thần gọi nó là,” anh què đáp, “Tám Con Đười Ươi Bị Xích, và nó thực sự là một trò đùa tuyệt hảo nếu diễn khéo.”

“Chúng ta sẽ diễn nó,” nhà vua tuyên bố, nâng mình dậy và hạ thấp mi mắt.

“Cái hay của trò chơi này,” Ếch Ộp nói tiếp, “nằm ở nỗi sợ mà nó gây ra cho cánh phụ nữ.”

“Tuyệt hảo!” Nhà vua và nội các của ngài đồng thanh reo lên.

“Thần sẽ hoá trang các vị thành đười ươi,” anh lùn tiếp tục, “cứ giao cả cho thần. Trông sẽ giống hệt, đến mức đoàn người dự hội sẽ tưởng các vị là những con thú thật – và tất nhiên, họ sẽ vừa kinh hoàng vừa sửng sốt.”

“Ôi, còn gì bằng!” Nhà vua thốt lên. “Ếch Ộp! Ta sẽ trọng thưởng cho nhà ngươi.”

“Dây xích nhằm mục đích tăng thêm hoang mang bối rối nhờ tiếng kêu loảng xoảng của chúng. Các vị sẽ giả vờ là thú xổng chuồng tập thể từ tay người trông coi. Bệ hạ không thể tưởng tượng nổi đâu: hiệu ứng tạo thành bởi tám con đười ươi bị xích, tại một dạ hội hoá trang, bị hầu hết mọi người tưởng nhầm là đười ươi thật; và lao vào giữa đám đông đầy đàn ông và phụ nữ ăn mặc bảnh bao lộng lẫy, trong tiếng kêu man dại. Sự tương phản ấy không gì sánh được!”

“Hẳn phải thế,” nhà vua nói; và hội đồng vội vã đứng dậy (như thể thời giờ đã muộn), để bắt tay vào thực hiện kế hoạch của Ếch Ộp.

Cách hoá trang nhóm người thành đười ươi của anh rất đơn giản, nhưng đủ hiệu quả cho mục đích của mình. Vào thời kì câu chuyện tôi kể diễn ra, loài vật này rất hiếm gặp ở bất cứ nơi nào trên thế giới văn minh; và vì sự mô phỏng do anh lùn tạo ra trông khá giống động vật thật và không kém phần gớm ghiếc, tính trung thực của nó so với tự nhiên có thể coi là được đảm bảo.

Đầu tiên, nhà vua và các bộ trưởng bị bao bọc trong quần áo lót bó sát bằng vải chun. Sau đó chúng được phết nhựa đường. Ở giai đoạn này, có ai đó trong đám người đề nghị dùng lông vũ; nhưng gợi ý đó lập tức bị anh lùn phủ quyết, anh nhanh chóng thuyết phục tám người kia bằng minh hoạ trực quan rằng lông mao của một con vật như đười ươi thì dùng sợi lanh để mô phỏng sẽ hiệu quả hơn nhiều. Vì thế một lớp sợi lanh dày được dán phủ lên lớp nhựa đường.

Giờ thì một sợi dây xích dài được gắn vào. Đầu tiên, nó quấn qua thắt lưng của nhà vua, buộc chặt, rồi quanh một thành viên khác trong nhóm, và cũng buộc chặt; rồi lần lượt quấn quanh tất cả theo cùng một kiểu.

Khi việc sắp xếp dây xích đã xong, và nhóm người đứng cách xa nhau tối đa, họ tạo thành một vòng tròn. Và để mọi thứ trông có vẻ tự nhiên, Ếch Ộp vắt phần dây xích thừa thành hai đường vuông góc bắt chéo nhau, ngang qua vòng tròn, bắt chước cách làm của những người bắt tinh tinh hay các loài vượn lớn khác ở đảo Borneo ngày nay.

Hội trường lớn nơi dạ hội diễn ra là một căn phòng hình tròn, rất cao, và chỉ đón nhận ánh mặt trời qua một cửa sổ duy nhất trên nóc. Vào ban đêm (căn phòng này được thiết kế riêng cho thời điểm đó) nó được chiếu sáng chủ yếu nhờ một ngọn đèn chùm, treo trên dây xích từ tâm của cửa sổ mái, và thông thường được nâng lên hạ xuống bằng cân đối trọng; nhưng (để đảm bảo mĩ quan) phần cân đối trọng này dẫn ra ngoài mái vòm và lên trên mái nhà.

Việc bài trí căn phòng được giao cho Trippetta giám sát; nhưng ở một số điểm cụ thể, dường như cô đã được chỉ dẫn bởi ý kiến sáng suốt hơn của anh bạn lùn. Theo đề xuất của anh, vào dịp này, ngọn đèn chùm bị dỡ bỏ. Sáp chảy xuống từ đèn (điều không thể tránh khỏi trong thời tiết nóng bức này) sẽ trở nên tai hại nghiêm trọng cho những bộ trang phục xa hoa của các vị khách, những người mà do tình trạng đông đúc của hội trường, sẽ không thể đứng tránh khỏi trung tâm căn phòng, cũng tức là vùng phía dưới ngọn đèn.

Chân nến được xếp thêm vào các nơi khác nhau trong hội trường, tránh xa khỏi đám đông, và một ngọn đuốc toả ra mùi thơm ngọt ngào, được đặt trên tay phải của mỗi bức tượng đứng cạnh tường – tổng cộng khoảng năm mươi hay sáu mươi bức.

Theo lời khuyên của Ếch Ộp, tám con đười ươi kiên nhẫn chờ đợi đến nửa đêm (khi căn phòng đã đông nghịt người dự hội) rồi mới xuất hiện. Ngay khi tiếng chuông đồng hồ ngừng vang, họ lao vào, hay nói đúng hơn là lăn vào cùng nhau – vì sự trói buộc của dây xích khiến phần lớn nhóm người ngã nhào, và tất cả chồng chất lên nhau khi vào phòng.

Sự xáo trộn lớn nổ ra trong đám người dự hội, và khiến trái tim nhà vua tràn ngập vui sướng. Đúng như mong đợi, không ít khách khứa tưởng những sinh vật có vẻ ngoài dữ tợn này là một loài thú có thật nào đó, dù không biết chính xác là đười ươi. Nhiều phụ nữ ngất xỉu vì khiếp đảm; và nếu không phải nhà vua đã thận trọng cấm mang tất cả vũ khí vào hội trường, thì hội tám người hẳn đã phải trả giá cho trò đùa của mình bằng máu. Thực tế là mọi người đổ xô ra cửa; nhưng nhà vua đã ra lệnh khoá cửa ngay sau khi ngài bước vào; và theo gợi ý của anh lùn, chìa khoá được giao cho anh trông giữ.

Khi cơn hỗn loạn lên đến đỉnh điểm, và mỗi vị khách dự hội chỉ biết lo cho an nguy của mình (bởi vì trên thực tế, nguy hiểm từ áp lực của đám đông kinh hoảng là rất thật), có thể thấy sợi xích thường dùng để treo đèn chùm, vốn đã bị rút lên khi ngọn đèn bị gỡ xuống, đang hạ xuống rất chậm rãi, cho đến khi đầu móc của nó cách sàn nhà chưa đến chín mươi phân.

Không lâu sau, nhà vua và bảy người bạn, sau khi vờn quanh hội trường về mọi hướng, cuối cùng thấy mình đứng giữa tâm của nó, và tất nhiên, tiếp xúc trực tiếp với sợi xích. Trong tình thế đó, anh lùn, vốn đã lẳng lặng bám theo gót họ, vừa khuyến khích họ tiếp tục gây hỗn loạn, vừa nắm lấy sợi xích của chính họ ở điểm giao nhau vuông góc của hai đường vắt ngang qua hình tròn. Tại đây, nhanh như chớp, anh cắm vào đó cái móc vốn dùng để treo đèn chùm; và trong chớp mắt, bởi một lực lượng vô hình nào đó, sợi xích treo đèn chùm bị kéo lên cao đến mức cái móc vượt khỏi tầm với, và hệ quả tất yếu là kéo lũ đười ươi áp sát vào nhau, mặt đối mặt.

Lúc này, đám đông dự hội đã phần nào trấn tĩnh từ cơn hoảng hốt; và bắt đầu coi toàn bộ chuyện này như một trò đùa công phu. Họ cười vang dội trước cảnh ngộ của lũ vượn.

“Để họ cho tôi!” Lúc này Ếch Ộp hét lên, giọng nói chói tai của anh to rõ giữa tiếng ồn. “Để họ cho tôi. Tôi nghĩ là mình biết họ. Chỉ cần tôi nhìn thật kĩ, là có thể nhận ra họ là ai.”

Nói đoạn, Ếch Ộp leo trên đầu đám đông, và lên đến tường. Anh vớ lấy một ngọn đuốc từ một bức tượng, rồi trở lại trung tâm căn phòng, bằng sự linh hoạt của một chú khỉ, anh nhảy bật lên đầu đức vua, rồi leo vài chục phân lên sợi xích; thò cây đuốc xuống để kiểm tra nhóm đười ươi, không ngừng hét lên: “Tôi sắp nhìn ra họ là ai rồi !”

Và bây giờ, khi toàn bộ đám đông (bao gồm cả lũ vượn) đều đang cười ngặt nghẽo, anh hề đột nhiên huýt sáo một tiếng chói tai; sợi xích lao vụt lên khoảng gần mười mét – kéo theo lũ đười ươi giật mình giãy giụa, và để chúng treo lủng lẳng trong không trung giữa cửa sổ mái và sàn nhà. Ếch Ộp, bám lấy sợi xích trong khi nó nâng lên, vẫn giữ nguyên vị trí của mình so với tám kẻ hoá trang, và vẫn tiếp tục dí ngọn đuốc của mình về phía họ (như thể không có chuyện gì xảy ra), như thể đang cố gắng khám phá xem họ là ai.

Toàn bộ đám đông sững sờ trước sự nâng lên này, đến mức tiếp sau đó là im lặng chết chóc kéo dài cả phút. Sự tĩnh lặng bị phá vỡ bởi một tiếng gầm gừ trầm thấp, dữ dằn, như tiếng động lúc trước từng thu hút sự chú ý của nhà vua và các thành viên nội các của ngài khi nhà vua hắt rượu vào mặt Trippetta. Nhưng lần này, không còn nghi ngờ gì về việc tiếng động ấy đến từ đâu. Nó đến từ hàm răng như nanh thú của anh lùn, người đang vừa nghiến răng trèo trẹo vừa phun bọt mép, và trừng mắt nhìn những gương mặt treo ngược của nhà vua cùng bảy người tuỳ tùng bằng vẻ phẫn nộ điên cuồng.

“A, ha!” Cuối cùng anh hề cuồng nộ cũng nói. “A, ha! Tôi bắt đầu thấy những người này là ai rồi!” Nói đoạn, anh giả vờ nheo mắt nhìn nhà vua kĩ hơn, tay dí ngọn đuốc vào lớp sợi lanh bao bọc quanh ngài, và một quầng lửa rực rỡ ngay lập tức cháy bùng lên. Trong chưa đầy nửa phút, cả tám con đười ươi bốc cháy dữ dội, giữa tiếng kêu thét của đám đông đang chứng kiến bên dưới trong khiếp hãi, hoàn toàn bất lực.

Cuối cùng ngọn lửa mỗi lúc một tàn độc buộc anh hề phải trèo cao hơn trên sợi xích, để tránh khỏi tầm với của lưỡi lửa; và trong khi anh làm thế, đám đông lại chìm vào im lặng. Anh hề bắt lấy cơ hội này, và một lần nữa lên tiếng:

“Giờ tôi đã thấy rõ những kẻ hoá trang này là hạng người nào. Họ là đức vua vĩ đại và bảy vị cố vấn cơ mật – một vị vua không hề do dự khi đánh một cô gái không có khả năng tự vệ, và bảy vị cố vấn về hùa với ông ta trong hành vi đáng hổ thẹn đó. Còn về phần tôi, tôi chỉ là Ếch Ộp, một anh hề – và đây là màn pha trò cuối cùng của tôi.”

Nhờ tính dễ cháy của cả sợi lanh lẫn lớp nhựa đường dính với nó, anh lùn chỉ vừa kịp kết thúc bài phát biểu ngắn của mình thì sự nghiệp báo thù đã hoàn thành. Tám xác chết lủng lẳng trong dây xích thành một đống hôi thối, đen đúa, gớm ghiếc, lẫn lộn vào nhau. Anh què quẳng ngọn đuốc của mình về phía chúng, ung dung leo lên trần nhà, và biến mất qua cửa sổ mái.

Người ta đoán rằng Trippetta, trực sẵn trên mái hội trường, đã tiếp tay cho người bạn của cô trong cuộc báo thù nảy lửa của anh, và rằng cùng nhau, họ đã chạy trốn thành công về đất nước của mình: bởi vì không ai còn nhìn thấy họ nữa.

Advertisement

spot_img

Chương 7 – Tiền...

Kỷ niệm về người bà tài giỏi vùng Saga chương 7 được Yoshichi Shimada tái hiện rõ nét và xúc động cùng bài học nhân sinh giản dị sâu sắc.

Chương 15

Keiko trong Cô nàng cửa hàng tiện ích chương 15 của Sayaka Murata có thực sự được sống theo ý mình là nhân viên cửa hàng tiện ích hay không?

Chương một

Con trai người thợ gốm -Chương một của Tomy Mitton là bản tình ca tuổi trẻ phương Đông đầy suy ngẫm của một tác giả phương Tây.

Chương 2 – Mê...

Chuyện con mèo lập kèo cứu sách - Chương 2 của nhà văn Natsukawa Sosuke khiến người đọc phải gật gù trước những điều kỳ lạ nhưng đúng đắn.

Chương cuối – Khu...

Khu vườn xinh đẹp của tôi chương cuối của tác giả Yuu Nagira kể về những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại Nhật.

Tóp mỡ ngào đường

Món lạ miền Nam - Tóp mỡ ngào đường của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với nhiều món ăn hấp dẫn.

Chương 7 – Tiền từ trên trời rơi xuống!?

Kỷ niệm về người bà tài giỏi vùng Saga chương 7 được Yoshichi Shimada tái hiện rõ nét và xúc động cùng bài học nhân sinh giản dị sâu sắc.

Chương 15

Keiko trong Cô nàng cửa hàng tiện ích chương 15 của Sayaka Murata có thực sự được sống theo ý mình là nhân viên cửa hàng tiện ích hay không?

Chương một

Con trai người thợ gốm -Chương một của Tomy Mitton là bản tình ca tuổi trẻ phương Đông đầy suy ngẫm của một tác giả phương Tây.

Chương 2 – Mê cung thứ hai: “Kẻ cắt sách”

Chuyện con mèo lập kèo cứu sách - Chương 2 của nhà văn Natsukawa Sosuke khiến người đọc phải gật gù trước những điều kỳ lạ nhưng đúng đắn.

Chương cuối – Khu vườn xinh đẹp của tôi II

Khu vườn xinh đẹp của tôi chương cuối của tác giả Yuu Nagira kể về những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại Nhật.

Tóp mỡ ngào đường

Món lạ miền Nam - Tóp mỡ ngào đường của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với nhiều món ăn hấp dẫn.

Mồ Không

Tập thơ Điêu tàn - Mồ Không của Chế Lan Viên là nỗi niềm, là tiếng nói cất lên thay người dân Chiêm thành xưa khi nhìn ngắm tháp Chàm nay.

Rươi

Miếng ngon Hà Nội - Rươi của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với biết bao món ăn hấp dẫn.

Sự tích ông bình vôi

Truyện cổ tích Việt Nam - Sự tích ông bình vôi là tập hợp truyện cổ tích viết cho thiếu nhi của Nguyễn Đổng Chi.