Chương 01 – Tên Cướp Biển Già

Có lẽ tôi phải rất tự hào mà nói rằng tôi là một người có trí nhớ vô cùng tuyệt vời. Và cũng bởi do trời phú cho tôi cái trí nhớ tuyệt vời ấy, cộng với tất cả những gì tôi được chứng kiến từ đầu chí cuối mà tôi được tha thiết yêu cầu thuật lại tất cả những gì tôi được biết về Đảo giấu vàng, tuyệt đối không được bỏ sót một chi tiết nào, ngoại trừ vị trí địa lý của hòn đảo. Cũng cần phải nói rõ thêm rằng những người yêu cầu tôi thuật lại câu chuyện này chính là điền chủ Trelawney, bác sĩ Livesey và một số vị quý tộc khác, sở dĩ chúng tôi còn chưa thể công bố rõ vị trí địa lý của Đảo giấu vàng vì ở đó hiện còn cất giấu số châu báu còn lại mà chúng tôi chưa có điều kiện phân tán được.

Thế nhưng mãi đến tận năm 1782 tôi mới bắt đầu bắt tay vào cái công việc được giao phó ấy.

Ngược dòng thời gian, trí nhớ tôi, như một quyển sách lần lượt giở ngược lại. Ấy là thời kỳ cha tôi là ông chủ của quán trọ “Đô đốc Benbow”. Hồi ấy tôi đã rất khoái vì quán của chúng tôi mang tên một vị đô đốc đương nhiệm của nước Anh, quá oách!

Và một ngày kia, có một lão thủy thủ già với nước da đen sạm vì quá dãi dầu nắng và gió biển đã đến đây. Chiến tích của những ngày lênh đênh biển cả thế hiện rõ nét nhất trên mặt lão, một vết sẹo hằn sâu, có lẽ là do gươm chém.

Trước mắt tôi hiện lên rõ mồn một hình ảnh lão già dừng lại trước cửa quán chúng tôi, chấm dứt chuỗi bước chân nặng nề, không phải bước, mà là lê trên mặt đất. Đằng sau lão, một chiếc xe trên chở chiếc hòm thủy thủ, hành lý của lão, do một người đẩy thuê. Tôi tò mò ngắm kỹ lão, lão khá to con, thân hình lực lưỡng, còn khuôn mặt thì khỏi cần bàn. Trên khuôn mặt ấy chứa đầy những năm tháng gian truân cực nhọc, dầm sương dãi nắng, nó cho ta thấy rõ cái nắng sém da của mặt trời và cái mặn chát của muối biển.

Tôi cứ tò mò nhìn mãi cái mẩu tóc đuôi sam quét nhựa thòi lên trên cổ chiếc áo khoác màu xanh lem luốc dầu mỡ của lão. Còn hai bàn tay của lão thì khỏi phải nói, trên đó chằng chịt những vết chai và sẹo, móng tay thì đen sì, cái dài cái ngắn, nhìn nham nhở và bẩn phát khiếp. Ấy là tôi còn phải chưa tả cái vết sẹo do gươm chém trên mặt lão, nó làm cho cái má lão dúm lại. Cái màu trắng đục pha lẫn sắc chì làm cho
khuôn mặt lão càng trở nên dữ tợn.

Dừng bước là lão đảo ngay mắt ngó quanh vùng vịnh, vừa nghiêng ngó lão vừa chúm môi huýt sáo. Và bỗng nhiên lão cất tiếng hát, một bài hát xưa cũ của cánh thủy thủ để giải khuây.

Mười lăm thằng nằm trên hòm người chết,

Ha ha ha! Và một chai rượu rum!

Tôi tưởng tượng ra xưa kia lão cũng vừa quay chiếc tời cuộn dây chão, vừa ồ ề hát với cái giọng khê đặc, run run, đứt khúc như lão hát lúc này.

Lão dùng chiếc gậy to tướng như cái đòn bẩy nện thình thình vào cửa quán của chúng tôi. Và khi cha tôi vừa kịp thời xuất hiện, lão cắt ngang cục cằn đòi cha tôi rót ngay cho lão một ly rượu rum.

Lim dim đôi mắt, lão già khề khà nhấm nháp từng chút một đủ thể hiện cho người xung quanh thấy lão là một người rất sành sỏi. Vừa uống, lão vừa đưa mắt ngó quanh quất. Cuối cùng, lão kết luận:

– Chà, thật là tuyệt, một cái vịnh vô cùng thuận tiện. Làm ăn ra sao, ông bạn? Quán trọ chắc phất lắm hả?

Cha tôi nhún vai, ra chiều ế ẩm lắm.

Lão già nhướng đôi lông mày:

– Thật vậy ư? Nhưng ta lại cho rằng đây chính là chỗ thuận tiện cho ta thả neo đó.

Rồi lão vẫy người đẩy xe chở hành lý của lão:

– Ê, người anh em! Chèo thuyền lại đây và hãy bê chiếc hòm của ta vào trong quán.

Tôi suýt phì cười vì lão già này vẫn giữ cách nói ở trên tàu.

– Ta sẽ nghỉ chân ở đây ít bữa – Lão nói tiếp – Ta cũng dễ tính thôi mà. Ta chỉ cần có thịt lợn muối và trứng, nhưng kiểu gì cũng phải có rượu rum. Rất tốt là trước quán của ông bạn đây lại có cái mỏm đá, ta có thể đứng đó mà ngắm biển cả và tàu bè qua lại. À, mà ta, phải tự giới thiệu đã chứ nhỉ! Mà thôi, các người cứ gọi ta giản dị là thuyền trưởng… A ha, mà sao ông bạn lại cứ ngó ta chằm chằm thế kia? Ta biết là ông muốn gì rồi! Đây!

Tiếng “đây” vừa dứt thì lão cùng vung tay. Ba, bốn đồng tiền vàng rơi xuống ngưỡng cửa.

– Khi nào hết tiền, nhớ bảo ta, nghe chưa? – Vừa nói lão vừa nhìn cha tôi với đôi mắt dọa dẫm lại vừa ra vẻ một ngài khách sộp.

Nhìn kỹ lão, ngoài bộ quần áo bôi nhếch và cái giọng cục cằn, thô lỗ, quả thực lão cũng không giống một gã thủy thủ tầm thường. Tôi thầm đoán hình như lão cũng đã từng có quyền lực, là thuyền trưởng hoặc chí ít cũng là thuyền phó một chiếc tàu buôn cỡ lớn nên có thói quen bắt người khác phải phục tùng mình và thích nói chuyện bằng nắm đấm.

Tranh thủ lúc vác chiếc hòm vào trong quán, người đẩy xe thuê kể cho chúng tôi biết rằng sáng hôm qua lão thủy thủ già này đến khách sạn George bằng một chiếc xe ngựa. Vừa đến nơi, lão đã vội vả hỏi thăm mọi người về tất cả số quán trọ nằm gần bờ biển. Và lão đã chấm quán trọ của chúng tôi, quyết định lấy nơi này làm chỗ nghỉ chân sau khi nghe những lời nhận xét về cách phục vụ, nhất là lại biết nó nằm ở một nơi hẻo lánh. Đấy là tất cả những gì thông tin về người khách trọ hôm đó của chúng tôi – chỉ có thế!

Hình như lão ta là một người ít mồm miệng. Kè kè bên mình một chiếc kính viễn vọng bằng đồng, hay lang thang suốt ngày dọc bên bờ vịnh hoặc trèo lên trên các mỏm đá. Buổi tối, lão ngồi uống rượu rum bên ngọn lửa tận bên góc trong cửa phòng khách. Lão pha thêm vào rượu một chút nước và chẳng thèm há mồm đáp lấy một tiếng nếu một người nào đó có ý định bắt chuyện với lão. Lão đáp lại những cử chỉ bắt quen thân thiện của mọi người bằng tiếng khịt mũi tựa như tiếng còi tàu trong sương mù hoặc chỉ đơn giản bằng cái nhìn có thể làm cho người ta dựng tóc gáy. Chính cái thái độ không mấy thiện cảm này của lão giúp cho lão được yên; tránh được con mắt tò mò của chúng tôi.

Câu hỏi thường nhật của lão lúc lão đi lang thang cả ngày về là chúng tôi có nhìn thấy đám thủy thủ nào đi ngang qua hay không? Chúng tôi chắc mẩm với nhau là lão đang nhớ đám bạn giang hồ của lão đang lang thang trên những nẻo đường ngoài biển cả. Nhưng rồi sau đó lại vỡ lẽ ra rằng lão hỏi thế vì lão muốn tránh mặt đám thủy thủ này. Chúng tôi khẳng định được điều đó qua những lần quan sát lão mỗi khi có gã thủy thủ nào đó đi đến cảng Bristol bằng con đường chạy theo bờ biển và nghỉ chân, tạm ở quán trọ của cha tôi. Những lúc ấy, lão thủy thủ già quan sát kỹ gã kia qua tấm rèm cửa. Một lúc rồi mới từ từ bước vào phòng khách. Trở về chỗ ngồi quen thuộc, lão ngồi im thít trong khi đám thủy thủ kia vừa uống rượu vừa ồn ào trò chuyện.

Linh tính mách bảo cho tôi biết, chắc có chuyện gì đây. Và một hôm lão thuyền trưởng – từ nay ta cứ gọi lão như cách lão giới thiệu – đã muốn tôi chia sẻ với lão nỗi lo sợ của mình. Lão thừa lúc vắng người vẫy tôi đến gần.

– Này, ta sẽ trả cho chú mày một đồng bốn xu bạc vào ngày đầu mỗi tháng nếu chú mày chịu khó banh cả hai mắt ra trông chừng xem có thấy một gã thủy thủ cụt chân xuất hiện ở đâu hay không? Nhớ nhé, một đồng bốn xu bạc cơ đấy! Nếu thấy gã ấy ở đâu thì phải báo ngay cho ta biết.

Nhưng lão lại khịt khịt hai lỗ mũi và phóng tia nhìn dữ tợn vào tôi mỗi khi tôi hỏi tới món tiền lão đã hứa vào sáng ngày mồng một mỗi tháng. Thế rồi cuối cùng lão cũng đưa cho tôi một đồng bốn xu sau khi nhắc lại cho tôi mệnh lệnh: “Tuyệt đối không được bỏ qua gã thủy thủ cụt chân!”.

Quả thật, gã thủy thủ cụt chân đó đã ám ảnh tôi cả trong từng bữa ăn, giấc ngủ. Hắn làm cho tôi khiếp đảm. Hắn hiện lên trong giấc mộng của tôi với trăm ngàn hình dạng quỷ quái vào những đêm dông tố, khi gió biển làm rung chuyển cả bốn góc cái quán trọ nhỏ bé của chúng tôi và sóng đập dữ dội vào những mỏm đá trên bờ vịnh.

Trong giấc mơ của tôi, cái chân của hắn lúc thì cụt tới đầu gối, nhưng có lúc thì lại cụt tới tận bẹn. Có khi hắn lại hiện ra như một con quái vật khủng khiếp với cái chân duy nhất mọc ngay giữa thân mình. Với cái chân quái đản đó, hắn hùng hục đuổi theo tôi, hắn nhảy tưng tưng qua cả những mương rãnh, thậm chí nhảy qua cả những hàng rào. Cái giá mà tôi phải trả cho việc làm chủ những đồng bốn xu hàng tháng là những cơn ác mộng ấy. Cái giá đó quả là quá đắt!

Nhưng dù nỗi khiếp đảm của tôi trước những cơn ác mộng về gã thủy thủ cụt chân có như thế nào chăng nữa nhưng những đồng bốn xu bạc vẫn có sức hấp dẫn riêng của nó. Và trên hết, đó là tôi vẫn sợ lão thuyền trưởng hơn tất cả.

Có những hôm lão không thể nhấc đầu lên nổi nữa vì lão nốc quá nhiều rượu rum pha với nước. Mỗi lúc như thế, cả phòng khách của chúng tôi lại đầy ắp những câu tục tĩu, man rợ trong những bài hát xưa cũ của cánh thủy thủ mà lão thuyền trưởng đang rống lên. Lão cứ ngồi hát như thế, rất lâu, chẳng thèm đếm xỉa tới sự có mặt của mọi người ở trong phòng. Rồi có khi lão lại cao hứng mời mọi người tới chỗ mình, đòi đưa ly ra. Và trong lúc mọi người còn đang sợ sệt, lão ồ ề kể về những chuyến phiêu lưu trên biển, hoặc bắt mọi người cùng hát theo lão.

Mỗi khi như thế tôi cứ tưởng như bốn bức tường của quán trọ rung lên theo nhịp hát “Và một chai rượu rum! Ha ha ha!” Mọi người cố gắng gân cổ gào cái điệp khúc ấy thật to, có lẽ bởi vì họ rất sợ cơn điên bất chợt bùng lên từ lão thuyền trưởng. Còn lão thuyền trưởng, trong những lúc say sưa quá ấy, lão ta thật là khủng khiếp. Lão ta cứ như một kẻ điên, có lúc lão giáng nắm đấm đánh “rầm” xuống và lúc thì nổi khùng lên nếu có ai chen vào hỏi lão một câu gì đó. Nhưng nếu như không có ai dám hé miệng hỏi han gì thì lão lại cáu ầm lên vì lão cho rằng mọi người không chú ý tới câu chuyện lão đang kể.

Mọi người chỉ được phép ra về khi lão đã ngấm rượu, nửa tỉnh nửa say, vừa gà gật ngủ vừa lảo đảo bước vẽ chỗ nằm của mình. Còn trước đó, lão tuyệt nhiên cấm không cho một ai bước ra khỏi quán.

Nhưng theo tôi, có lẽ ghê rợn hơn cả vẫn là những câu chuyện do chính miệng lão. Các giá treo cổ, các vụ đi trên ván, những trận bão biển và quần đảo Dritortuys về các băng cướp và những chiến tích của bọn cướp ở biển Tây Ban Nha. Tất cả đều vô cùng khủng khiếp.

Lão kể rằng lão đã sống suốt một đoạn đời sôi nổi giữa những tên cướp cực kỳ hung ác từng làm mưa làm gió trên biển cả. Đám dân quê chất phác chúng tôi cứ co dúm người lại mỗi khi tiếng chửi tục tĩu văng ra khỏi phòng lão, cứ như là chúng tôi đang sống trong các cảnh đâm chém dã man mà lão từng kể.

Thật là tồi tệ! Lão thuyền trưởng làm cho đám khách khứa quen biết không một ai dám bén mảng đến quán của chúng tôi nữa, cha tôi lo lắng cho rằng có lẽ cái quán trọ này sắp phải đóng cửa đến nơi, ông bảo rằng chẳng có ai lại chịu đựng được cái thói đối xử lỗ mãng như thế và sau đó lại sợ run cầm cập trên đường về nhà!

Nhưng tôi thì tôi lại thấy ngược lại. Tôi cho rằng những lo lắng của cha tôi thật là thừa, khách khứa quả có sợ lão ta thật, nhưng sau đó người ta lại kéo đến đông hơn, cứ y như lão là thỏi nam châm, còn mọi khách khác là sắt vụn vậy. Lão làm lợi cho chúng tôi đấy chứ! Lão đã mang vào cuộc sống quê mùa phẳng lặng của chúng tôi một cái gì đó dữ dội, khác thường. Ngưỡng mộ lão nhất vẫn là đám thanh niên. Có người còn tuyên bố thẳng thừng rằng họ khâm phục lão. Họ gọi lão là con sói biển già, con sói biển thực thụ đã được biển cả tôi luyện, và cũng chính nhờ những “con sói biển” đó mà người nước Anh đã trở thành nỗi khủng khiếp của các đại dương – họ khẳng định như vậy.

Thế nhưng… số tiền mà lão đưa cho chúng tôi lúc mới đến trọ đã hết vèo từ lâu. Mà lão vẫn cử ở lỳ hết tuần này qua, tuần khác, hết tháng này qua tháng khác. Cha tôi chẳng thể đủ can đảm đòi tiền lão trong khi lão không thèm tính tới chuyện trả thêm tiền. Về mặt này, quả là về mặt này lão đã làm cho chúng tôi thiệt hại. Mỗi khi cha tôi vừa mới định nói bóng gió về chuyện tiền nong là lão ta đã thở phì phì một cách hung hãn, mà có lẽ là lão còn gầm gừ, trên cả thở phì phì một bậc nữa kia, lão còn phóng tia mắt đỏ vằn dữ dội thẳng vào mặt cha tôi tới mức ông hoảng sợ vụt ngay ra khỏi phòng. Và cứ sau mỗi lần như vậy cha tôi lại vật mình vật mẩy một cách tuyệt vọng. Và chính nỗi tuyệt vọng trong hoảng sợ ấy đã mau chóng đưa cha tôi tới cái chết thê thảm sau này – tôi có thể quả quyết điều này.

Mà hình như trong suốt thời gian lão thuyền trưởng ở quán trọ của chúng tôi, lão chỉ độc có một bộ quần áo mặc trên người. Ngoài mấy đôi tất lão mua của người bán hàng rong lão chẳng có thêm gì cả. Tôi còn nhớ như in cái áo khoác rách bươm của lão và cái mũ vành rủ hẳn xuống một bên mà lão vẫn đội trên đầu. Cái áo khoác cuối cùng đã biến thành một mớ giẻ rách khi không còn chỗ nào có thể để cho lão có thể đè lên một miếng vá được nữa.

Chẳng một ai trong số chúng tôi thấy lão viết thư từ cho ai và có lẽ lão cũng chẳng bao giờ nhận được thư từ của ai cả. Cũng chẳng một ai thấy lão mở cái hòm của lão. Ngoại trừ mấy người quen của quán mỗi khi lão say sưa bí tỉ, cũng chẳng bao giờ lão bắt lời với một ai khác cả.

Vào cái ngày mà người cha bất hạnh của tôi sắp sửa từ giã cõi đời, có một người mà một lần duy nhất một người dám làm trái ý lão thuyền trưởng. Đó là bác sĩ Livesey.

Vào một buổi tối khi ông bác sĩ này đến khám bệnh cho cha tôi, khám xong mẹ tôi mời ông ở lại ăn cơm. Sau đó ông xuống hút thuốc ở phòng khách và chờ người ta đưa ngựa tới, con ngựa này phải gửi ở dưới làng vì ở quán trọ của chúng tôi không có chuồng để giữ, cái quán trọ này đã quá già nua mà.

Mẹ sai tôi dẫn ông bác sĩ xuống phòng khách. Khỏi phải nói, cặp mắt tôi đã xoe tròn tới mức nào khi nhìn thấy vị bác sĩ này. Giữa đám dân đen quê mùa cục mịch chúng tôi, ông ta nổi bật hẳn lên với mớ tóc giả trắng phau và bộ quần áo lịch sự chải chuốt. Sự phong lưu của ông ta đối lập hẳn với cái lão cướp biển dơ dáy, béo tròn đang sắp rũ hẳn xuống vì đã nốc đầy bụng rượu rum, lão bù nhìn rơm này đang ngồi chống tay xuống bàn, rồi bỗng nhiên lại rống lên bài hát muôn thuở của lão:

Mười lăm thằng nằm trên hòm người chết,
Ha ha ha! Và một chai rượu rum.
Mau nốc đi, rồi quỷ sứ sẽ đưa mi tới địa ngục.

Ha ha ha, và một chai rượu rum!

Lúc mới nghe tôi cứ đinh ninh “chiếc hòm của xác chết” mà lão cứ nhắc đi nhắc lại ấy chính là chiếc hòm to tướng của lão đang nằm chình ình trên phòng của lão ta. Chiếc rương ấy cùng với gã thủy thủ cụt chân hằng đêm xuất hiện trong những cơn ác mộng của tôi. Nhưng dần rồi tôi cũng chẳng còn chú ý gì tới bài hát ấy nữa, vì nó đã quá nhàm rồi.

Nhưng đối với bác sĩ Livesey bài hát này quả là mới lạ, và hình như ông ta rất lấy làm khó chịu. Đang nói chuyện với ông lão làm vườn Taylor về một thứ thuốc mới trị bệnh phong thấp, ông ta dừng ngay lại và quay nhìn lão thuyền trưởng với một ánh mắt bực bội. Còn lão thuyền trưởng không để ý thấy cử chỉ đó của ông bác sĩ, lão ta vẫn say sưa với cái điệp khúc cũ rích của mình và cao hứng nện nắm đấm xuống bàn. Động tác đó cũng có nghĩa là lão ra lệnh cho mọi người phải im lặng.

Lập tức mọi tiếng lao xao trò chuyện đều im bặt. Duy chỉ có bác sĩ Livesey vẫn tiếp tục nói dõng dạc và thân ái, sau mỗi câu ông ta lại rít một hơi thuốc trong ống điếu. Tỏ vẻ ngạc nhiên vì có kẻ lại làm không theo lệnh mình, lão thuyền trưởng nhìn trừng trừng ông bác sĩ rồi đột ngột gầm lên:

– Ê, câm mồm lại, boong đằng kia!

Không giật mình, ông bác sĩ từ tốn hỏi:

– Thưa ông, ông nói với tôi đấy ư?

Lão già vẫn thô lỗ:

– Chính là mày, câm ngay!

Ông bác sĩ nghe thế vẫn từ tốn:

– Nếu quả đúng như thế thì tôi cũng xin nói với ông một điều: nếu ông vẫn còn tiếp tục tọng đầy bụng ông toàn một thứ rượu rum ấy thì có lẽ cũng sắp rồi, thế gian sẽ loại trừ được một trong những tên vô lại bẩn thỉu nhất đấy.

Lão thuyền trưởng như phát điên – lão chồm lên mặt bàn, tay rút phắt con đao xếp thủy thủ của lão ra, mở phăng lưỡi rồi vừa tung tung con dao trong lòng bàn tay, lão vừa cao giọng dọa sẽ “ghim chặt” ông bác sĩ vào tường.

Ngược hẳn với lão thuyền trưởng, thậm chí ông bác sĩ không thèm nhúc nhích. Rồi vẫn bằng cái giọng đều đều như cũ, có chăng âm giọng hơi to hơn một chút nhằm mục đích để cho mọi người cùng nghe, ông nói bình tĩnh:

– Hãy lập tức thu ngay con dao kia lại. Bằng không tôi xin có lời hứa danh dự với ông rằng cái đầu ông sẽ lủng lẳng làm bạn với giá treo cổ ngay sau khi tòa án lưu động mở phiên tòa đầu tiên.

Lão thuyền trưởng gườm gườm nhìn ông ta bằng cái nhìn đầy thù địch. Thế nhưng trước cái nhìn sắc lạnh của ông bác sĩ, lão ta lại là kẻ quy hàng đầu tiên. Miệng vẫn gầm gừ như con chó bị đòn đau nhưng lão ta đành phải cất dao và ngồi phịch xuống ghế.

Ông bác sĩ nói tiếp:

– Tôi cũng xin nói rõ thêm cho ông điều này nữa: Thưa ông, vì tôi đã biết trong vùng này có một kẻ như ông nên nhiệm vụ mới của tôi là phải giám sát ông chặt chẽ. Bởi vì tôi cũng kiếm luôn cả chức quan tòa của vùng này. Chỉ cần có một lời khiếu nại nhỏ nhất nào đến tai tôi, dù chỉ là lời khiếu nại về việc ông ăn nói thô lỗ với một người nào đó như vừa rồi thì tôi sẽ có những biện pháp cương quyết để bắt giữ và trục xuất ông ra khỏi vùng này. Tôi nghĩ là ông đã quá hiểu những lời tôi vừa nói.

Một lúc sau, người ta dẫn ngựa của bác sĩ Livesey tới. Ông ta phi ngựa đi.

Ông bác sĩ đi rồi, lão thuyền trưởng im lặng ngồi nguyên tại chỗ. Và lão ta cứ im thin thít như thế trong nhiều tối nữa.

Advertisement

spot_img

Chương 7 – Tiền...

Kỷ niệm về người bà tài giỏi vùng Saga chương 7 được Yoshichi Shimada tái hiện rõ nét và xúc động cùng bài học nhân sinh giản dị sâu sắc.

Chương 15

Keiko trong Cô nàng cửa hàng tiện ích chương 15 của Sayaka Murata có thực sự được sống theo ý mình là nhân viên cửa hàng tiện ích hay không?

Chương một

Con trai người thợ gốm -Chương một của Tomy Mitton là bản tình ca tuổi trẻ phương Đông đầy suy ngẫm của một tác giả phương Tây.

Chương 2 – Mê...

Chuyện con mèo lập kèo cứu sách - Chương 2 của nhà văn Natsukawa Sosuke khiến người đọc phải gật gù trước những điều kỳ lạ nhưng đúng đắn.

Chương cuối – Khu...

Khu vườn xinh đẹp của tôi chương cuối của tác giả Yuu Nagira kể về những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại Nhật.

Tóp mỡ ngào đường

Món lạ miền Nam - Tóp mỡ ngào đường của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với nhiều món ăn hấp dẫn.

Chương 7 – Tiền từ trên trời rơi xuống!?

Kỷ niệm về người bà tài giỏi vùng Saga chương 7 được Yoshichi Shimada tái hiện rõ nét và xúc động cùng bài học nhân sinh giản dị sâu sắc.

Chương 15

Keiko trong Cô nàng cửa hàng tiện ích chương 15 của Sayaka Murata có thực sự được sống theo ý mình là nhân viên cửa hàng tiện ích hay không?

Chương một

Con trai người thợ gốm -Chương một của Tomy Mitton là bản tình ca tuổi trẻ phương Đông đầy suy ngẫm của một tác giả phương Tây.

Chương 2 – Mê cung thứ hai: “Kẻ cắt sách”

Chuyện con mèo lập kèo cứu sách - Chương 2 của nhà văn Natsukawa Sosuke khiến người đọc phải gật gù trước những điều kỳ lạ nhưng đúng đắn.

Chương cuối – Khu vườn xinh đẹp của tôi II

Khu vườn xinh đẹp của tôi chương cuối của tác giả Yuu Nagira kể về những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại Nhật.

Tóp mỡ ngào đường

Món lạ miền Nam - Tóp mỡ ngào đường của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với nhiều món ăn hấp dẫn.

Mồ Không

Tập thơ Điêu tàn - Mồ Không của Chế Lan Viên là nỗi niềm, là tiếng nói cất lên thay người dân Chiêm thành xưa khi nhìn ngắm tháp Chàm nay.

Rươi

Miếng ngon Hà Nội - Rươi của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với biết bao món ăn hấp dẫn.

Sự tích ông bình vôi

Truyện cổ tích Việt Nam - Sự tích ông bình vôi là tập hợp truyện cổ tích viết cho thiếu nhi của Nguyễn Đổng Chi.
Bài tiếp theo