Chương 8 – Người buôn lạc đà thành Babylon

Càng đói, tâm trí người ta càng tỉnh táo – và cũng sẽ càng nhạy với mùi thức ăn.

Tarkad, con trai Azure, rõ ràng nghĩ như vậy. Suốt hai ngày nay anh ấy chưa được ăn gì ngoại trừ hai quả sung nhỏ ăn trộm ở bờ tường khu vườn nọ. Anh không kịp chôm thêm quả nào thì người đàn bà giận dữ đã ào tới đuổi anh khắp phố.

Tiếng la hét của bà ta vẫn còn vang trong tai Tarkad khi anh đến chợ. Trải nghiệm này khiến anh rụt tay, không dám trộm trái cây từ giỏ của những người ở chợ.

Từ trước đến nay, chưa bao giờ anh nhận ra rằng ở chợ xứ Babylon có nhiều thức ăn đến thế, và thức ăn lại thơm ngon đến thế. Rời chợ, anh đi ngang qua lữ quán, lượn tới lượn lui trước cửa nhà ăn.

Có lẽ anh sẽ gặp ai đó anh quen; một người nào đó mà anh có thể vay mượn vài đồng bạc lẻ – thứ có thể giúp đặt lên môi ông chủ lữ quán khó chịu kia một nụ cười và khiến ông sẵn sàng tiếp đón anh.

Không có đồng xu nào, chắc chắn Tarkad sẽ chẳng được mời chào ở đây đâu.

Rồi bỗng nhiên, anh chợt đối mặt với người mà anh muốn tránh nhất: Dabasir, người buôn lạc đà cao gầy xương xẩu. Trong tất cả những người mà Tarkad đã vay mượn ít tiền, Dabasir khiến anh khó chịu nhất vì anh cứ không thể giữ lời hứa trả nợ đúng hẹn.

Khuôn mặt của Dabasir sáng bừng lên khi nhìn thấy Tarkad:

“Ha! Tarkad đây rồi, anh chàng mà ta đã tìm bấy lâu nay để được trả 2 đồng xu ta cho mượn tháng trước; với cả 1 đồng bạc cho vay trước đó nữa.

Cuối cùng ta cũng gặp nhau. Vừa hay ta cũng đang cần tiền. Sao rồi chàng trai? Thế nào?”

Tarkad lắp bắp, khuôn mặt đỏ lựng.

Bụng anh rỗng tuếch, không còn hơi sức đâu tranh luận với Dabasir. Anh lí nhí yếu ớt: “Cháu xin lỗi, rất xin lỗi… Nhưng hôm nay cháu chẳng có xu lẻ nào để trả nợ cả.”

Dabasir nói: “Vậy thì về lấy tiền trả đi. Chắc chắn phải có vài đồng để trả cho ông bạn già của cha cháu – người đã hào phóng cho cháu mượn khi cháu đang gặp khó khăn, phải không?”

“Vận rủi cứ theo cháu nên cháu không có tiền trả.”

“Vận rủi! Đừng đổ thừa cho thánh thần vì những lỗi lầm yếu kém của mình chứ. Vận rủi theo chân tất cả những người nghĩ nhiều đến chuyện mượn tiền nhưng chả nhớ trả tiền.

Theo ta nào chàng trai, đợi ta ăn. Ta đang đói và sẽ kể cho cháu nghe một câu chuyện.”

Tarkad nhăn mặt trước lời nói thẳng của Dabasir, nhưng ít nhất là anh cũng đã có lời mời để bước chân vào cửa nhà ăn.

Dabasir đẩy Tarkad đến một góc xa trong nhà ăn, và họ ngồi trên mấy tấm thảm nhỏ.

Khi Kauskor, chủ tiệm, xuất hiện với một nụ cười, Dabasir nói một cách thoải mái như thường lệ:

“Chào ông bạn, mang cho tôi một cái đùi dê, nhiều sốt vào, bánh mì, và đủ loại rau củ vì tôi đang đói ngấu rồi. Đừng quên anh bạn của tôi nhé. Mang cho cậu ấy một ca nước.

Nước mát một chút, vì hôm nay nóng quá.”

Con tim Tarkad nhói đau. Vậy là anh phải ngồi đây uống nước và nhìn Dabasir nhâm nhi cả một cái đùi dê à? Anh chẳng nói gì. Anh chẳng biết nói gì.

Tuy thế, Dabasir chẳng biết im lặng là gì. Cười tươi và vẫy tay chào thân thiện với những thực khách khác – tất cả đều quen biết ông – rồi Dabasir nói:

“Ta có nghe một người vừa đi Urfa về kể về một người cực kì giàu có. Ông này có một mảnh đá được cắt mỏng đến nỗi có thể nhìn xuyên qua. Ông ta lắp nó lên cửa sổ để chống mưa.

Mảnh đá đó màu vàng, và người bạn ta kể là đã được chủ nhà cho phép nhìn xuyên qua đó.

Cả thế giới nhìn qua đó rất lạ, không như đời thực. Cháu nghĩ sao, Tarkad? Có nghĩ rằng có thể nhìn thế giới với một màu hoàn toàn khác thực tế hay không?”

“Vâng,” Tarkad trả lời. Anh hứng thú với chiếc đùi dê vừa được đặt trước mặt Dabasir hơn.

“Ta biết đó là sự thật, vì bản thân ta đã nhìn thế giới này với một màu rất khác thực tế, và câu chuyện ta sắp kể sẽ nói về cách ta đã tỉnh ngộ và quay lại nhìn thế giới thực như thế nào.”

“Dabasir sắp kể chuyện kìa,” một thực khách ngồi gần đó thì thầm với bạn, và kéo thảm của mình lại gần hơn.

Những thực khách khác mang thức ăn lại và ngồi thành một vòng bán nguyệt.

Tiếng nhai thức ăn cứ vang vọng vào tai Tarkad và làm anh nhói đau bằng những khúc sườn đầy thịt.

Chỉ mình Tarkad là không có gì ăn. Dabasir đã không mời anh ăn, và thậm chí còn chẳng chừa cho anh góc bánh mì cứng ngắc vừa bị vỡ ra và rơi xuống nền nhà.

“Câu chuyện ta sắp kể,” Dabasir bắt đầu, rồi ngừng lại để cắn một miếng thịt đùi to, “là thời ta còn trẻ, về chuyện ta đã trở thành người buôn lạc đà như thế nào.

Có ai biết rằng ta từng là nô lệ ở Syria không?”

Những tiếng thì thầm ngạc nhiên vang lên, và Dabasir nghe với một sự thỏa mãn lộ rõ.

“Khi ta còn trẻ,” Dabasir nói tiếp, sau khi cắn một miếng thịt cực lớn nữa, “ta đã học cách buôn bán từ cha ta, một người làm yên ngựa. Ta đã phụ việc trong xưởng của cha, và đã cưới vợ.

Hồi đó, còn trẻ và không có tay nghề cao, ta chỉ kiếm được chút ít, chỉ đủ để nuôi vợ sống tằn tiện.

Ta muốn những sản phẩm chất lượng mà ta không có tiền mua. Thế rồi ta phát hiện ra rằng các chủ tiệm tin tưởng ta và cho phép ta trả sau nếu không đủ tiền để trả ngay lúc đó.

Còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, ta không biết rằng người nào chi tiêu nhiều hơn số tiền kiếm được sẽ nhanh chóng bị cuốn theo cơn gió nuông chiều bản thân không cần thiết, để rồi rơi vào vòng xoáy rắc rối và tủi nhục.

Thế là ta đã nuông chiều ham muốn ăn mặc trang phục chất lượng, mua những đồ xa xỉ cho vợ và để trang trí nhà cửa, ngoài khả năng chi trả.

Ta đã cố hết sức trả nợ, và trong một khoảng thời gian thì mọi thứ vẫn tốt. Nhưng rồi ta phát hiện thu nhập của mình không đủ để vừa trang trải cuộc sống vừa trả nợ nữa.

Chủ nợ bắt đầu đòi ta trả cho những khoản chi tiêu quá trớn, cuộc sống của ta bắt đầu đau khổ.

Ta mượn tiền bạn bè, nhưng cũng không thể trả nợ cho họ.

Mọi thứ đi từ tệ đến rất tệ.

Vợ ta bỏ về nhà cha mẹ đẻ, còn ta quyết định rời Babylon, tìm một vùng đất khác có nhiều cơ hội hơn.

Suốt hai năm ròng, ta làm việc cho những nhà buôn lữ hành, không biết mệt mỏi, và cũng chẳng biết thành công là gì.

Thế rồi ta gia nhập băng cướp, chuyên hay đi săn những đoàn buôn đi dọc sa mạc nhưng không được vũ trang đầy đủ.

Việc này hẳn sẽ làm cha ta mất mặt, nhưng lúc đó ta đang nhìn thế giới qua một lăng kính kì ảo, và không nhận ra mình đã sa ngã đến mức nào.

Ngay phi vụ đầu tiên, băng cướp đã thành công, cướp được rất nhiều vàng bạc, lụa là, và nhiều hàng hóa giá trị khác. Bọn ta mang số của cải này đến Ginir và phung phí hết ở đây.

Lần thứ hai, băng cướp của ta không may mắn lắm.

Sau khi tấn công đoàn buôn, ta bị đội quân của một chủ soái địa phương tấn công – đoàn lữ hành đã trả tiền nhờ người này bảo vệ.

Hai người đứng đầu băng cướp mất mạng, và đám còn lại bị đưa đến Damascus, lột hết tư trang và bị bán dưới dạng nô lệ.

Một chủ soái sa mạc người Syrian mua ta với giá 2 đồng bạc. Bị cạo trọc và chỉ một mảnh vải che thân, ta hóa thành nô lệ.

Tuổi trẻ nông nổi, ta chỉ nghĩ đó đơn thuần là một cuộc phiêu lưu, cho đến khi chủ nhân của ta mang ta ra trước 4 bà vợ của ông rồi bảo họ có thể tuyển ta làm hoạn quan.

Đến lúc đó ta mới nhận ra tình thế vô vọng của mình. Những người ở sa mạc rất hung bạo và hiếu chiến, còn ta đang đứng trước họ, không vũ khí, cũng chẳng có cách thoát thân.

Ta đứng đó, sợ hãi khi 4 bà vợ nhìn ta từ đầu đến chân. Ta không biết liệu mình có thể xin họ xót thương hay không. Sira, người vợ cả, lớn tuổi nhất. Mặt bà ấy trơ trơ khi nhìn ta.

Ta chẳng nhẹ lòng hơn tí nào.

Người tiếp theo là một mỹ nữ, vẻ khinh thường, nhìn ta không chút cảm xúc, cứ như nhìn con giun đất vậy.

Hai người trẻ hơn thì cười nhẹ, cứ như đây là một trò đùa.

Ta đứng đó chờ lãnh kết cục, thời gian cứ như cả thế kỉ. Bà vợ nào cũng muốn đẩy cho những người còn lại quyết định. Cuối cùng, Sira nói, giọng lạnh như băng:

‘Hoạn quan thì có nhiều lắm rồi, nhưng người chăn lạc đà thì ít, mà bọn đấy thật vô dụng. Ngày hôm nay, em đi thăm mẹ bị sốt, mà chẳng có thằng nô lệ nào em tin tưởng được để dắt lạc đà cả. Hay hỏi thằng này có biết dắt lạc đà không thử xem.’

Chủ nhân quay qua hỏi: ‘Ngươi có biết gì về lạc đà không?’

Cố che giấu sự mừng rỡ, ta trả lời: ‘Tôi biết bắt nó quỳ gối, biết chất hàng lên lạc đà, biết dắt lạc đà đi đường dài mà không mệt. Nếu cần, tôi còn biết sửa dây thắng nữa.’

‘Thằng nô lệ này nói là biết. Nếu nàng muốn, Sira, bắt thằng này chăn dắt lạc đà cho nàng đi.’

Thế là từ đó ta bị giao cho Sira, rồi ngay trong ngày hôm đó, ta dắt lạc đà của bà ta đi thăm mẹ bệnh.

Ta lựa thời điểm cảm ơn bà ta vì đã giúp đỡ, rồi bảo rằng ta vốn không phải là nô lệ, mà là con trai của một người tự do, một thợ làm yên ngựa có tiếng ở Babylon.

Ta cũng kể bà ta nghe câu chuyện của mình. Lời bình của Sira khiến ta bối rối và trăn trở rất nhiều:

‘Làm sao cậu có thể gọi mình là người tự do, khi mà những lỗi lầm của cậu đã đẩy đưa cậu vào tình cảnh thế này? Nếu một người có trong lòng linh hồn nô lệ, thì dù khởi đầu có thể nào, cuối cùng hắn cũng sẽ thành nô lệ mà thôi.

Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Nếu có linh hồn người tự do, thì dù ra đời không may mắn, về sau hắn cũng sẽ trở thành người được trọng vọng thôi cậu trai ạ.’

Suốt cả năm trời, ta là nô lệ, sống với nô lệ, nhưng không thể trở thành một trong số họ.

Ngày nọ, Sira hỏi ta: ‘Mỗi đêm, tất cả nô lệ đều hòa nhập và tận hưởng với nhau, sao ngươi ngồi trong lều một mình vậy?’

‘Thưa bà, tôi đang trăn trở điều mà bà đã nói với tôi. Tôi không rõ mình có linh hồn nô lệ hay không nữa. Tôi không thể tham gia với họ, nên phải ngồi tách biệt thế này.’

‘Ta cũng bị tách biệt,’ Sira thú nhận. ‘Của hồi môn của ta rất nhiều, phu quân cưới ta vì đó. Nhưng ông không yêu ta. Người phụ nữ nào chẳng muốn được yêu.

Và cũng vì không có con, nên ta bị tách biệt. Nếu là đàn ông, ta thà chết còn hơn làm nô lệ, nhưng tục lệ của bộ tộc ta thường biến phụ nữ thành nô lệ.’

‘Vậy bà nghĩ gì về tôi?’ Tôi bất chợt hỏi. ‘Tôi có linh hồn của người tự do, hay của một kẻ nô lệ?’

‘Cậu có từng muốn trả hết số nợ còn thiếu ở Babylon không?’

‘Có, tôi rất muốn, nhưng không thấy cách nào cả.’

‘Nếu cậu sẵn lòng để năm tháng trôi qua mà không có động thái nào để trả nợ, thì rõ ràng cậu có linh hồn nô lệ rồi.

Chẳng có người tự do nào có thể tôn trọng một người không tự trọng, không hoàn trả nợ đã vay.’

‘Nhưng tôi có thể làm gì khi đang là nô lệ ở Syria?’

‘Vậy thì cứ làm nô lệ ở Syria đi, đồ yếu ớt.’

‘Tôi không yếu ớt.’

‘Chứng minh đi.’

‘Làm thế nào?’

‘Chẳng phải vị vua vĩ đại của cậu chiến đấu với kẻ thù bằng mọi phương cách, với toàn bộ nguồn lực mà ông có sao? Nợ của cậu cũng là kẻ thù của cậu đấy. Nó khiến cậu phải rời Babylon.

Cậu né tránh nợ, và nó đã quá mạnh với cậu. Nếu chịu chiến đấu với nó như một người đàn ông thực thụ, cậu sẽ có thể chinh phục nó, và được mọi người tôn trọng.

Nhưng cậu làm gì có linh hồn tự do để chiến đấu, thế nên sự tự tôn của cậu đã suy đồi đến mức bây giờ cậu phải là nô lệ ở Syria.’

Ta đã nghĩ rất nhiều về những lời buộc tội không mấy dễ chịu của Sira.

Ta đã nghĩ nhiều câu nói để biện hộ rằng linh hồn mình không phải là linh hồn nô lệ, nhưng chưa bao giờ có cơ hội sử dụng những lời này.

Ba ngày sau, Sira triệu ta đến gặp bà.

‘Mẹ của ta lại bệnh nặng. Hãy đóng yên cương hai con lạc đà tốt nhất trong đàn. Mang theo túi nước và đồ dùng để đi đường dài. Người hầu của ta sẽ cho cậu thức ăn ở khu bếp.’

Ta đóng yên cương lạc đà, và rất thắc mắc về lượng đồ dùng mà cô người hầu đã cung cấp, vì chỗ của mẹ Sira chỉ cách 1 ngày đường.

Cô người hầu cưỡi con lạc đà đi phía sau, còn ta dắt lạc đà của Sira. Khi đến nơi, trời vừa tối. Sira cho người hầu lui và nói với ta:

‘Dabasir, cậu có linh hồn tự do, hay linh hồn nô lệ?’

‘Linh hồn tự do, thưa bà.’

‘Vậy đây là cơ hội để chứng minh lời của cậu.

Chủ nhân của cậu say xỉn rồi, và mọi người đang chếch choáng. Lấy lạc đà và trốn đi. Đây là quần áo của chủ nhân để cậu ngụy trang. Ta sẽ báo lại rằng cậu đã trộm lạc đà và trốn đi khi ta thăm mẹ.’

‘Người có linh hồn của một nữ hoàng. Tôi ước rằng mình có thể dẫn dắt bà đến với niềm hạnh phúc.’

‘Hạnh phúc sẽ không chờ đón một người vợ bỏ trốn để tìm nó ở vùng đất xa xôi của những con người xa lạ. Hãy đi con đường của riêng cậu, mong các thánh thần của sa mạc phù hộ cho cậu, vì đường dài mà lại rất ít thức ăn và nước uống.’

Dĩ nhiên ta không cần ai giục.

Ta cảm ơn Sira nồng hậu và trốn đi vào ban đêm. Ta không biết rõ vùng đất kì lạ này và chỉ mơ hồ biết hướng đi dẫn về Babylon, nhưng vẫn dũng cảm tiến bước xuyên sa mạc qua vô vàn đồi cát.

Ta cưỡi một con lạc đà, con kia thì dắt dây theo.

Nguyên đêm ấy, ta cứ đi, và vào ngày hôm sau, ta lại có động lực đi nhanh hơn vì biết chuyện gì sẽ chờ đón những người nô lệ trộm tài sản của chủ nhân rồi trốn đi nhưng bị bắt về.

Trưa đó, ta đến một vùng hầu như không người ở tại sa mạc. Đá sắc cạnh cứa chân hai con lạc đà của ta tóe máu. Chúng đi chậm dần vì đau đớn.

Ta chẳng gặp một người hay vật nào, và chợt hiểu vì sao người ta lại bỏ nơi khó sống này mà đi.

Tiếp theo lại là một cuộc hành trình mà ít người có thể sống sót trở về. Ngày qua ngày, ta và hai con lạc đà cứ rong ruổi.

Thức ăn và nước uống đã cạn.

Sức nóng mặt trời không chút nhân từ với cơ thể ta. Vào cuối ngày thứ 9, ta trượt khỏi lưng lạc đà, cảm thấy rằng mình đã quá yếu để leo lại lên yên. Ta hẳn sẽ chết ở vùng đất không người này.

Ta nằm thẳng ra đất và ngủ thiếp đi, không thể tỉnh lại cho đến khi ánh mặt trời đầu tiên ló dạng.

Ta ngồi dậy và nhìn quanh.

Không khí buổi sáng mát nhẹ. Hai con lạc đà nằm kiệt quệ cách đó không xa.

Quanh ta là những đống đổ nát của một vùng đất bỏ hoang, đầy đá, cát, và những vật thể gai góc. Không có nước. Không có thức ăn cho cả người lẫn lạc đà.

Nơi tĩnh lặng bình yên này là nơi ta kết thúc sao? Tâm trí ta tỉnh táo hơn bao giờ hết.

Thân thể ta giờ chẳng còn quan trọng nữa. Môi khô khốc và rỉ máu. Lưỡi khô và sưng lên. Bụng trống không. Tất cả nỗi đau tột bậc ngày qua như tan hết.

Ta nhìn quanh vào khoảng không trước mắt, rồi chợt câu hỏi ấy lại xuất hiện:

‘Ta có linh hồn nô lệ, hay linh hồn của một kẻ tự do?’ Khi đó, ta nhận rõ rằng nếu mình có linh hồn nô lệ, ta sẽ bỏ cuộc, nằm đó vùi thân mãi mãi ở sa mạc. Một kết cục rất phù hợp cho một tên nô lệ bỏ trốn.

Nhưng nếu ta có linh hồn tự do, thì sao?

Chắc chắn ta sẽ tìm đường về Babylon, trả nợ cho những người đã tin tưởng mình, mang lại niềm hạnh phúc cho người vợ thật lòng yêu ta, mang lại sự bình yên mãn nguyện cho cha mẹ ta.

‘Nợ của cậu cũng là kẻ thù của cậu đấy. Nó khiến cậu phải rời Babylon,’ lời của Sira vọng về. Đúng là như vậy.

Tại sao ta lại không đứng dậy chiến đấu như một con người thật sự? Tại sao ta lại để vợ ta về nhà cha mẹ?

Thế rồi một điều kì lạ xảy ra. Cả thế giới bỗng chợt có một màu sắc khác, cứ như trước đến giờ ta phải nhìn đời qua một lăng kính màu, và giờ đây lăng kính ấy đã được gỡ bỏ. Ít nhất thì ta cũng đã nhìn được những giá trị thật của cuộc sống này.

Chết ở sa mạc! Không phải ta! Với một tầm nhìn mới, ta đã thấy những điều mình cần phải làm.

Đầu tiên, ta sẽ trở về Babylon, đối diện với tất cả những người ta nợ chưa trả.

Ta sẽ bảo họ rằng sau nhiều năm lang thang và gặp nhiều vận rủi, ta đã quay lại để trả nợ nhanh hết mức có thể.

Sau đó, ta sẽ tạo dựng một ngôi nhà cho vợ ta, và trở thành công dân gương mẫu như cha mẹ ta hằng mong mỏi.

Nợ chính là kẻ thù, nhưng các chủ nợ lại là bạn ta, vì họ đã tin tưởng ở ta.

Thế rồi ta yếu ớt đứng dậy.

Đói thì đã sao? Khát thì đã sao? Đó chỉ là những chướng ngại trên con đường trở về Babylon.

Trong ta là linh hồn của một người tự do, trở về để chinh phục kẻ thù và trả ơn bạn bè. Ta vô cùng hào hứng với viễn cảnh này.

Mắt của hai con lạc đà sáng bừng lên khi nghe tiếng gọi khàn khàn của ta.

Với nhiều nỗ lực, sau mấy lần bất thành, cuối cùng chúng cũng đứng được. Thật kiên trì, chúng dấn bước về phía bắc – có điều gì đó trong lòng ta mách bảo rằng đó là đường về Babylon.

Ta tìm thấy nước. Ta đi qua một vùng đất màu mỡ hơn, có cỏ và hoa quả. Ta tìm thấy dấu vết đường đi về Babylon, vì linh hồn người tự do nhìn cuộc đời như một chuỗi các vấn đề phải giải quyết, rồi giải quyết rốt ráo. Còn linh hồn nô lệ thì than vãn:

‘Ta có thể làm gì chứ, ta là nô lệ mà!’

Còn cậu thì sao, Tarkad? Cái bụng rỗng của cậu có làm đầu óc cậu sáng hơn không? Đã sẵn sàng bước trên con đường dẫn về sự tự trọng chưa? Đã thấy thế giới với màu sắc chân thực hơn chưa?

Cậu có muốn trả những món nợ của mình, dù nhiều hay ít, và một lần nữa trở thành một con người được tôn trọng ở Babylon chứ?”

Nước mắt xuất hiện trên khóe mắt chàng trai. Cậu hăng hái quỳ lên: “Ông đã cho cháu tầm nhìn; cháu đã cảm được linh hồn người tự do trỗi dậy trong mình.”

“Nhưng ông đã làm thế nào khi trở về?” Một người hỏi.

“Ở đâu có ý chí, ở đó có con đường,” Dabasir trả lời.

“Ta giờ đã có ý chí, nên bắt đầu tìm lối đi. Đầu tiên, ta gặp tất cả những người ta còn nợ, và xin họ thư thả một thời gian để ta kiếm tiền trả nợ. Hầu hết đều rất vui khi gặp ta.

Vài người chửi rủa, nhưng những người khác đề nghị giúp đỡ. Một người đã thực sự giúp ta rất nhiều.

Đó là Mathon, người chuyên cho vay.

Biết rằng ta đã từng chăn dắt lạc đà ở Syria, ông ấy gửi gắm ta với Nebatur, người buôn lạc đà. Nebatur vừa mới được đức vua giao cho việc thu mua rất nhiều lạc đà để đi chinh phạt.

Đi theo ông, kiến thức về lạc đà của ta có đất dụng võ. Dần dần, ta đã có thể trả hết từng đồng xu còn nợ.

Thế rồi cuối cùng ta đã có thể ngẩng đầu và cảm thấy rằng mình đã được tôn trọng.”

Rồi Dabasir lại quay sang đĩa thức ăn: “Kauskor, đồ lề mề,” ông gọi lớn vào bếp, “thức ăn lạnh hết rồi này.

Mang thêm thịt mới nướng ra đây. A và mang một phần lớn cho Tarkad, con trai của bạn ta nhé, cậu nhóc giờ đói lắm rồi, và sẽ dùng bữa với ta.”

Câu chuyện của người buôn lạc đà Dabasir ở xứ Babylon kết thúc.

Ông đã tìm được linh hồn thực sự của chính mình khi nhận ra một sự thật vĩ đại, một chân lí đã được rất nhiều người thông thái thấu hiểu và ứng dụng từ rất lâu rồi.

Chân lí ấy đã dẫn dắt bao con người qua bao thế hệ qua khỏi những trắc trở để hướng đến thành công.

Nó cũng sẽ tiếp tục dẫn dắt những người chịu lắng nghe và thấu hiểu sức mạnh diệu kì của nó. Nó dành cho bất kì người nào đọc và khắc ghi trong tâm can điều này:

Ở ĐÂU CÓ Ý CHÍ, Ở ĐÓ CÓ CON ĐƯỜNG

Advertisement

spot_img

Chương 7 – Tiền...

Kỷ niệm về người bà tài giỏi vùng Saga chương 7 được Yoshichi Shimada tái hiện rõ nét và xúc động cùng bài học nhân sinh giản dị sâu sắc.

Chương 15

Keiko trong Cô nàng cửa hàng tiện ích chương 15 của Sayaka Murata có thực sự được sống theo ý mình là nhân viên cửa hàng tiện ích hay không?

Chương một

Con trai người thợ gốm -Chương một của Tomy Mitton là bản tình ca tuổi trẻ phương Đông đầy suy ngẫm của một tác giả phương Tây.

Chương 2 – Mê...

Chuyện con mèo lập kèo cứu sách - Chương 2 của nhà văn Natsukawa Sosuke khiến người đọc phải gật gù trước những điều kỳ lạ nhưng đúng đắn.

Chương cuối – Khu...

Khu vườn xinh đẹp của tôi chương cuối của tác giả Yuu Nagira kể về những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại Nhật.

Tóp mỡ ngào đường

Món lạ miền Nam - Tóp mỡ ngào đường của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với nhiều món ăn hấp dẫn.

Chương 7 – Tiền từ trên trời rơi xuống!?

Kỷ niệm về người bà tài giỏi vùng Saga chương 7 được Yoshichi Shimada tái hiện rõ nét và xúc động cùng bài học nhân sinh giản dị sâu sắc.

Chương 15

Keiko trong Cô nàng cửa hàng tiện ích chương 15 của Sayaka Murata có thực sự được sống theo ý mình là nhân viên cửa hàng tiện ích hay không?

Chương một

Con trai người thợ gốm -Chương một của Tomy Mitton là bản tình ca tuổi trẻ phương Đông đầy suy ngẫm của một tác giả phương Tây.

Chương 2 – Mê cung thứ hai: “Kẻ cắt sách”

Chuyện con mèo lập kèo cứu sách - Chương 2 của nhà văn Natsukawa Sosuke khiến người đọc phải gật gù trước những điều kỳ lạ nhưng đúng đắn.

Chương cuối – Khu vườn xinh đẹp của tôi II

Khu vườn xinh đẹp của tôi chương cuối của tác giả Yuu Nagira kể về những vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại Nhật.

Tóp mỡ ngào đường

Món lạ miền Nam - Tóp mỡ ngào đường của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với nhiều món ăn hấp dẫn.

Mồ Không

Tập thơ Điêu tàn - Mồ Không của Chế Lan Viên là nỗi niềm, là tiếng nói cất lên thay người dân Chiêm thành xưa khi nhìn ngắm tháp Chàm nay.

Rươi

Miếng ngon Hà Nội - Rươi của Vũ Bằng đưa ta đến chuyến phiêu lưu của vị giác trong tưởng tượng với biết bao món ăn hấp dẫn.

Sự tích ông bình vôi

Truyện cổ tích Việt Nam - Sự tích ông bình vôi là tập hợp truyện cổ tích viết cho thiếu nhi của Nguyễn Đổng Chi.